Điện thoại: 0838 855 955
Hotline: 0938 216 668


Đặc tính dầu nhớt lạnh công nghiệp


Dầu nhớt lạnh bôi trơn máy nén có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình khai thác vận hành máy nén. Chúng ta có thể ngừng cấp dịch hay cho phép áp suất nén cao hơn bình thường trong một khoảng thời gian ngắn. Nhưng không cho phép ngừng bôi trơn máy nén dù một thời gian ngắn (thường không quá 1,5 – 2 phút).

 Nhiệm vụ của dầu nhớt lạnh công nghiệp

 

Dầu bôi trơn được sử dụng trong các hệ thống lạnh có máy nén cơ. Nhiệm vụ chủ yếu của dầu bôi trơn là:

 

- Bôi trơn các chi tiết chuyển động của máy nén, các bề mặt ma sát, giảm ma sát và tổn thất do ma sát gây ra. Riêng máy nén và máy dãn nở oxy không có dầu bôi trơn vì khí nén, dầu gây ra cháy nổ nguy hiểm và khi dãn nở, nhiệt độ hạ đột ngột và dầu bị đông cừng lập tức:

 

- Làm nhiệm vụ tải nhiệt từ các bề mặt ma sát pittong, xilanh, ổ bi, ổ bạc … ra vỏ máy nén để tỏa ra môi trường, đảm bảo nhiệt độ ở các vị trí trên không quá cao.

 

- Chống rò rỉ môi chất cho các cụm bịt kín và đện kín cổ trục.

 

- Giữ kín các khoang nén trong máy trục vít.

 

Yêu cầu đối với dầu bôi trơn, dầu nhớt lạnh công nghiệp

 

Dầu bôi trơn nằm trong máy nén do đó dầu tham gia vào vòng tuần hoàn môi chất lạnh, đi qua tất cả các thiết bị chính và phụ của hệ thống. Chính vì vậy dầu nhớt lạnh công nghiệp có các yêu cầu rất khắc khe:

 

- Có đặc tính chống mài mòn và chống gây sát bề mặt tốt;

 

- Có độ nhớt thích hợp đảm bảo bôi trơn các chi tiết;

 

- Có độ tinh khiết cao, không chứa các thành phần có hại đối với hệ thống lạnh như ẩm, axit, lưu huỳnh, không được hút ẩm.

 

- Nhiệt độ bốc cháy phải cao, cao hơn nhiều so với nhiệt độ cuối quá trình nén;

 

- Nhiệt độ đông đặc phải thấp hơn, thấp hơn nhiều so với nhiệt độ sau tiết lưu và ở dàn bay hơi;

 

- Nhiệt độ lưu động phải thấp hơn nhiệt độ bay hơi để đảm bảo tuần hoàn trong hệ thống và có thể hồi dầu dễ dàng về máy nén(nếu dầu hòa tan hoàn toàn vào môi chất lạnh, việc tuần hoàn dầu càng dễ dàng);

 

- Không tạo lớp trở nhiệt trên bề mặt trao đổi nhiệt trong trường hợp này dầu phải tan hoàn toàn vào môi chất;

 

- Không làm giảm nhiệt độ bay hơi, qua đó làm giảm năng suất lạnh, trong trường hợp này dầu không được hòa tan vào môi chất lạnh;

 

- Không dẫn điện, có độ cách điện cao cả ở pha hơi và pha lỏng đặc biệt khi sử dụng cho hệ thống lạnh kín và nửa kín;

 

- Không gây cháy, nổ;

 

- Không phân hủy trong phạm vi nhiệt độ vận hành (thường từ -600C đến 150 0C, đặc biệt cho máy lạnh ghép tầng đến -800C thậm chí -1100C)

 

- Không được tác dụng với môi chất lạnh, với các vật liệu chế tạo máy vô cơ và hữu cơ, dây điện, sơn cách điện dây quấn động cơ, với vật liệu hút ẩm để tạo ra các sản phẩm có hại trong hệ thống lạnh, nhất là có hại cho động cơ và máy nén;

 

- Tuổi thọ phải cao và bền vững, đặc biệt trong hệ thống lạnh kín, có thể làm việc liên tục 20 đến 25 năm ngang với tuổi thọ của lốc tủ lạnh;

 

- Phải không được độc hại;

 

- Phải rẻ tiền dễ kiếm.

 

- Hàm lượng sáp trong dầu phải thấp vì sự tách sáp khỏi hỗn hợp dầu và gas lạnh có thể làm tắc lỗ thoát các van, đặc biệt van tiết lưu.

 

- Cần phải có tính ổn định nhiệt cao, không bị cháy sém và đóng xỉ than vào các vị trí có nhiệt độ cao, đặc biệt lá van đẩy và cửa đẩy của máy nén.

 

- Cần phải bền hóa học cao, không tác dụng với gas lạnh, ẩm trong hệ thống thành các dạng bùn, axit, không ăn mòn vật liệu chế tạo máy nén và hệ thống lạnh, không ăn mòn emay cách điện  …

 

- Nhiệt độ lưu động thấp, đảm bảo vẫn lưu động được không bị đông đặc ở nhiệt độ thấp nhất trong dàn lạnh, đảm bảo sự tuần hoàn dầu trong hệ thống.

 

- Có nhiệt độ tốt cả ở nhiệt độ cao khi máy nén làm việc và đảm bảo lưu động tốt ở dạng lỏng trong dàn bay hơi khi nhiệt độ thấp.

 

Dầu xả từ máy ra phải sạch và trong. Dầu bị biến màu là dầu đã bị nhiễm bẩn, khi đó phải thay phin lọc dầu để dầu mới nạp và giữ được độ trong sạch.

 

Một cách nhận biêt khác mùi hay dầu lạnh xả ra từ máy thường có tính axit cao, có thể ăn mòn da tay.

 

Trong thực tế, tất nhiên không thể tìm được một loại dầu bôi trơn lý tưởng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, ta chỉ có thể tìm được các loại dầu cho từng trường hợp ứng dụng cụ thể phát huy được các ưu điểm và khắc phục được các nhược điểm của nó.

 

Hoạt động của máy nén là gắn liền với bôi trơn, không thể có chạy máy mà không bôi trơn. Vì bôi trơn trong chạy máy sẽ giải quyết được các vấn đề sau:

 

- Dầu bôi trơn máy lạnh phải có độ dầu phù hợp, muốn vậy ngoài việc sử dụng đúng loại dầu phải đảm bảo yêu cầu về nhiệt độ đông đặc, đồng thời phải thay thế dầu theo chế độ định kỳ.

 

- Bôi trơn là đưa dầu đến các bề mặt ma sát của máy, giảm ma sát, giảm hao mòn. Ngoài ra dầu bôi trơn còn tác dụng làm mát máy, giảm tổn thất do nâng nhiệt, làm kín bề mặt trong các hành trình nén và hút làm giảm tổn thất do hở, cải thiện hệ số nạp, bôi trơn còn làm sạch bề mặt ma sát.

 

- Đối với gas lạnh là freon dầu hòa tan nhiều trong gas lạnh và nhiệt độ cuối quá trình nén không cao lắm. Vì vậy cho phép dầu sau khi ép nén được tuần hòa về máy từ bình tách dầu. Thông thường hệ thống freon dầu còn rất tốt, tuần hòa theo gas lạnh, dầu ít bị cháy. Đối với hệ thống sử dụng gas freon phù hợp cho hệ thống máy lạnh kín, bán kín, dầu có thể không cần thay thế suốt quát trình sử dụng.

 

Đối với hệ thống máy lạnh hở sử dụng gas lạnh amoniac do nhiệt độ cuối tầm nén cao hơn nhiều so với hệ thống máy lạnh freon. Vì vậy sau một thời gian hoạt động dầu bị cháy một phần, làm giảm khả năng bôi trơn của dầu. Do vậy, những hệ thống máy lạnh amoniac định kỳ thay dầu cũ bằng dầu mới. Thời gian thay thế dầu phụ thuộc rất lớn vào chế độ vận hành. Đặc biệt áp suất nén hay độ quá nhiệt của gas lạnh khi nén.

 

Trường hợp áp suất nén trong suốt quá trình chạy máy không cao quá, dầu lạnh xả ra từ giàn lạnh, bầu chứa, bình tách dầu … có thể sơ chế để sử dụng lại, nhưng chú ý phải loại nước và tạp chất.

 

Chất lượng dầu bôi trơn ảnh hưởng đén áp suất dầu, trong đó độ nhớt đóng vai trò quyết định. Độ nhớt cao hay thấp quá đều làm giảm áp suất dầu, có thể là nguyên nhân dừng máy nén do thiếu áp suất dầu.

 

Thông thường hệ thống tuần hoàn dầu bôi trơn trong hệ thống được thiết kế theo những tiêu chuẩn quốc gia hay khu vực, do vậy nếu chọn máy ban đầu không phù hợp địa lý cũng là trở ngại lớn cho hệ thống bôi trơn. Rõ ràng máy lạnh sử dụng cho Châu Âu mùa đông nhiệt độ dưới 00C, hệ thống làm mát máy chủ yếu là không khí, trong khi máy Châu Á làm mát bằng nước, hai phương thức làm mát máy khác nhau, kết quả nhiệt độ gas nén, nhiệt độ dầu rất rất khác nhau, biến đổi chất lượng dầu cũng khác nhau. Do vậy máy nén sử dụng cho Châu Âu phải có bộ sưởi dầu để duy trì nhiệt độ dầu ổn định theo yêu cầu trước khi chạy máy.

 

 Xác định và điều chỉnh áp suất dầu hợp lý.

 

Áp suất dầu ở máy nén cần được duy trì trong phạm vi cho phép, vượt quá phạm vi đó đều gây ảnh hưởng xấu đến chế độ bôi trơn máy nén.

 

Đối với máy nén piston áp suất dầu dựa trên cơ sở áp suất hút vì bơm dầu hút từ cacte máy nén. Xác định áp suất dầu của máy nén trục vít dựa trên cơ sở áp suất nén. Độ nhạy của role bảo vệ áp suất dầu thường 30 – 45 giây, cực đại cho phép 60 giây, thời gian điều chỉnh này phụ thuộc vào tốc độ máy, theo nguyên tắc tốc độ cao thì thời gian điều chỉnh của rơ le áp suất dầu càng ngắn.

 

Đối với máy nén thẳng dòng trước đây tốc độ chậm dưới 500 v/p thì thời gian điều chỉnh của rơ le bảo vệ áp suất dầu thường 60 -90 giây. Loại máy nén này hầu như không còn sử dụng do hiệu quảu thấp, độ tin cậy thấp …

 

Đối với máy nén ngược dòng ngày nay có tốc độ trên 1000 v/p, do vậy rơ le bảo vệ áp suất dầu hoạt động thường 45 – 60 giây tùy theo tốc dộ máy.

 

Đối với máy nén trục vít áp suất dầu được xác định căn cứ theo áp suất nén của môi chất. Tốc độ máy nén trục vít cao nên độ trễ của rơ le bảo vệ áp suất dầu ngắn hơn nhiều so với của máy nén piston.

 

Việc bảo vệ áp suất dầu dựa trên cơ sở đốt nóng thanh kim loại cho nên cần có thời gian nhất định. Khi máy bắt đầu chạy chưa có áp suất dầu lập tức do thiết bị kiểm soát ap suất dầu nằm cuối đường dầu, thời gian này dầu được dự trữ trong bọng dầu ở đầu ổ đỡ trục chính cấp dầu đén các bộ phần cần bôi trơn.

 

Lựa chọn đúng dầu bôi trơn cho máy nén là việc rất quan trọng, chỉ một loại dầu cho một máy nén nhất định. Khi có nhu cầu thay đổi dầu của hãng khác cần tham khảo các thông số của đầu, trong đó quan trọng nhất là độ nhớt.

 

Chế độ bôi trơn có tính quyết định đến ma sát, hao mòn và tuổi thọ của máy nén, đồng thời cũng ảnh hưởng đến độ tin cậy của máy nén. Điều chỉnh đúng áp suất dầu bôi trơn phù hợp phải căn cứ vào tứng máy cụ thể, không có một chuẩn chung cho tất cả.

 

 Phân loại dầu nhớt lạnh công nghiệp      

 

Dầu kĩ thuất lạnh công nghiệp có thể chia làm 2 nhóm chính là dầu khoáng và dầu tổng hợp. Ngoài ra còn một nhóm phụ là dầu khoáng có phụ gia tổng hợp

 

Dầu khoáng: các loại dầu khoáng không có công thức hóa học cố định mà là hỗn hợp của nhiều thành phần gốc hydrocacbon từ dầu mỏ. Hiện nay dầu khoáng được sử dụng rộng rãi nhất trong các hệ thống lạnh.

 

Dầu tổng hợp: dầu tổng hợp được sản xuất từ các chất khác nhau như polyclycol, các loại este, silicol hoặc các dầu tổng hợp gốc hydrocacbon. So với dầu khoáng, dầu tổng hợp có chất lượng bôi trơn tốt hơn khi hỗn hợp với môi chất lạnh, nhiệt độ đông đặc cũng thấp hơn, sự mài mòn chi tiết hơn nhưng giá thành cao hơn.

 

Dầu khoáng có phụ gia tổng hợp: để cải thiện một số tính chất của dầu khoáng, người ta cho thêm vào dầu khoáng một số phụ gia tổng hợp. Ví dụ, có thể cho them các thành phần phụ gia để tăng độ nhớt, chống oxy hóa, chống hiện tượng sủi bột, hạ nhiệt độ đông đặc, tăng nhiệt độ bốc cháy … Trên thực tế có thể sử dụng hỗn hợp dầu khoáng và dầu tổng hợp nhưng phải rất thận trọng vì có thể hỗn hợp không phát huy được các đặc tính yêu cầu mà lại tăng thêm nhược điểm. Chính vì vậy, phải tiến hành các thử nghiệm thận trọng trước khi sử dụng. Đã có nhiều trường hợp khi bổ sung dầu bôi trơn các loại khác nhau vào máy nén gây trục trặc nhiêm trọng toàn bộ hệ thống bôi trơn, dẫn đến cháy động cơ, cháy các bề mặt ma sát và các ổ bạc, ổ bi….

 

Dầu este là loại dầu đặc biệt dung cho các môi chất freon không có clo.

 

 Các tính chất cơ bản dầu công nghiệp

 

Các tính chất cơ bản của một số dầu lạnh của các nước giới thiệu bảng 1.

 

Các chữ viết tắt trong bảng 1.

 

1-M: dầu khoáng (napten)

 

C – Dầu tổng hợp

 

CY – Dầu khoáng tổng hợp gốc hydro cacbon

 

MC – hỗn hợp dầu khoáng và dầu tổng hợp.

 

M3 – dầu khoáng đặc.

 

2 - Tính chống mài mòn và tính ổn định với môi chất lạnh càng cao thì con số đi kèm * càng lớn.

 

3 - * Loại dầu có triển vọng 

 

 

Bảng 1. Thông số kỹ thuật của các dầu nhớt công nghiệp

 

 Độ nhớt dầu nhớt lạnh công nghiệp

 

Độ nhớt của dầu bôi trơn là thông số quan trọng nhất quyết định chất lượng của việc bôi trơn, giảm tổn thất do ma sát, giảm độ mài mòn thiết bị, tăng cường độ kín cho cụm bịt đầu trục, cho các đệm kín, cho các khoang hút và nén của máy nén trục vít … Để đảm bảo độ bôi trơn bình thường cho máy nén hiện đại có tốc độ cao, độ nhớt dầu ở 1000C không nhỏ hơn 6 … 7 mm2/s. Khi máy nén làm việc với cường độ cao hơn, độ nhớt phải đạt 8 … 10 mm2/s (bảng 1).

 

Độ nhớt của dầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ, độ hòa tan dầu vào môi chất lạnh, áp suất làm việc cũng như phụ thuộc vào gốc dầu.

 

Dầu khoáng napten cơ bản có chỉ tiêu độ nhớt thấp. Dầu khoáng paraffin có chỉ tiêu độ nhớt cao hơn. Dầu tổng hợp có chỉ tiêu độ nhớt cao nhất.

 

Độ nhớt của dầu giảm khi nhiệt độ tăng. Độ nhớt của dầu cũng giảm mạnh khi hòa tan với chất lạnh.

 

 Khối lượng riêng dầu nhớt lạnh công nghiệp

 

Khối lượng riêng của dầu lạnh nằm trong khoảng 0,87 đến 1,01 g/cm3, phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất và hàm lượng cabua hydro thơm. Khối lượng riêng của dầu ít ảnh hưởng đến sự làm việc của hệ thống lạnh.

 

Nhiệt độ đông đặc và nhiệt độ lưu động của dầu nhớt lạnh công nghiệp.

 

Nhiệt độ đông đặc là nhiệt độ khi dầu đã hóa đặc. Nhiệt độ lưu động là nhiệt độ mà dầu còn có khả năng lưu động trong thiết bị và đường ống, bảo đảm vòng tuần hòan của dầu bôi trơn trong hệ thống lạnh. Thường nhiệt độ lưu động cao hơn nhiệt độ đông đặc từ 3 đến 50C. Nhiệt độ đông đặc của dầu giảm khi tăng hàm lượng napten, giảm lượng cacbua hydro và paraffin. Nhiệt độ đông đặc của dầu khoáng giảm khi độ nhớt giảm.

 

 Nhiệt độ bốc cháy của dầu nhớt lạnh công nghiệp

 

Nhiệt độ bốc cháy phụ thuộc vào sự có mặt của nhom đễ cháy hay hơi trong dầu. Yêu cầu nhiệt độ bốc cháy của dầu khoáng từ 160 đến 1800C trở lên. Dầu không thể bốc cháy trong hệ thống lạnh nhưng nghiệt độ bốc cháy cao chứng tỏ sự ổn định của dầu cao.

 

 Độ axit của dầu nhớt lạnh công nghiệp

 

Độ axit của dầu là hàm lượng KOH trong dầu tính bằng miligam KOH trong 1 gam dầu. Yêu cầu độ axit không quá 0,03 đến 0,05mg KOH trong một gam dầu. Độ axit có thể hiện qua độ PH. Độ PH của dầu  lạnh phải đạt 6,5 …7.

 

 Hàm lượng nước và tính hút ẩm của dầu nhớt lạnh công nhiệp

 

Nước hòa tan ít trong dầu, tuy nhiên dầu lạnh có tính hút ẩm. Tính hút ẩm tăng khi nhiệt độ tăng. Nước có thể hòa tan trong dầu khoáng. Tốc độ hút ẩm của dầu cũng phụ thuộc vào từng loại dầu.

 

Chúng ta đã biết, nước dù với một lượng rất nhỏ còn sót lại cũng gây ra nhiều trục trặc trong hệ thống lạnh làm giảm chất lượng, lão hóa dầu, gây các phản ứng với dầu và môi chất lạnh tạo ra các chất ăn mòn và có hại khác. Dầu lạnh lý tưởng là dầu không chứa nước.

 

Trong thực tế, lượng nước trong dầu lạnh không được vượt quá 10 đến 60 phần triệu khối lượng theo lượng dầu nạp vào máy lạnh R12, R22, R502.

 

Do dầu có tính chất hấp thụ nước cao nên phải rất thận trọng khi bảo quản dầu. Tốt nhất phải đựng đầy và có năp kín không cho dầu tiếp xúc với không khí.

 

 Sức căng bề mặt dầu nhớt lạnh công nghiệp.

 

Sức căng bề mặt của dầu ảnh hưởng đến chất lượng bôi trơn và chống mài mòn của chúng. Sức căng bề mặt của dầu phụ thuộc vào nhiệt độ (giảm khi nhiệt độ tăng), vào loại dầu, vào độ hòa tan, vào môi chất lạnh (giảm nhanh khi hòa tan vào môi chất lạnh) và quyết định độ nhớt của dầu (sức căng bề mặt cao, độ nhớt dầu cao). Trong khoảng nhiệt độ từ -20 0C đến 100 0C sức căng bề mặt của dầu khoáng gốc cacbua hydro thay đổi từ 25 … 34.10 -3 N/m.

 

 Điểm anilin dầu nhớt lạnh bôi trơn

 

Điểm anilin được định nghĩa là nhiệt độ tới hạn của sự hòa tan dầu vào anilin, để tạo ra dung dịch đồng nhất.

 

Thực tế, điểm anilin được sử dụng là để đánh giá hàm lượng hydro cacbua thơm.

 

Điểm anilin phụ thuộc vào phân tử lượng (tỉ lệ thuận, cao khi phân tử lượng cao) và thành phần dầu (cao khi thành phần hydro cacbua thơm lớn).

 

Trong kĩ thuật lạnh, điểm anilin dung để định hướng đánh giá tính ổn định và sự hòa tan dầu trong môi chat lạnh.

 

 Hàm lượng asfal (nhựa đường, hắc ín … )

 

Các chất asfal có trong dầu khoáng và dầu hydro cacbua. Đây là những thành phần có hại làm giảm chất lượng dầu; tạo cặn lắng, làm giảm tính ổn định của dầu, lão hóa dầu, tạo các chất có hại ăn mòn thiết bị …

 

Trong dầu lạnh có chất lượng cao, hàm lượng hắc ín không vượt quá 0,3 … 0,5%.

 

 Hệ số khúc xạ dầu nhớt lạnh công nghiệp   

 

Hệ số khúc xạ ánh sang ở ranh giới của hai môi trường ở nhiệt độ 20 0C, kí hiệu N, đặc trưng cho cấu trúc của dầu lạnh. Dầu khoáng napten-parafin có hệ số khúc xạ từ 1,465 đến 1,49. Với hàm lượng hydro cacbua tăng, tỉ trọng tăng và hệ số khúc xạ tăng.

 

Dầu khoáng và dầu gốc hydro cacbua chất lượng cao có thể khúc xạ không vượt quá 1,5 …. 1,51.

 

 Tính ổn định nhiệt của dầu nhớt lạnh công nghiệp

 

Tính ổn định nhiệt của dầu đặc trưng cho khả năng bảo toàn tính chất lí học và hóa học của dầu chống lại sự phá hủy và oxy hóa ở nhiệt độ cao. Tính ổ định nhiệt được biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu như: hàm lượng hắc ín, asfal phải nhỏ, nhiệt độ bắt cháy cao, nhiệt độ sôi cao …

 

Dầu khoáng paraffin có tính ổn định nhiệt cao. Để nâng cao tính ổn định nhiệt, người ta có thể cho thêm vào dầu lạnh phụ gia chống oxy hóa.

 

 Hình dạng và màu sắc dầu nhớt lạnh công nghiệp

 

Hình dạng của dầu đặc trưng cho sự trong suốt hoặc không trong suốt khi quan sát qua một chiều dầy dầu nhất định. Dầu lạnh phải có độ trong suốt cao. Sự không trong suốt chứng tỏ dầu chất lượng kém do có hàm lượng nước cao (tạo nhũ tương). Do có chất keo không hòa tan hoặc các chất lơ lửng trong dầu.

 

Màu sắc của dầu cũng chỉ là chỉ tiêu để đánh giá chất lượng dầu. Dầu chất lượng cao phải cso độ sang cao hoặc có màu sáng vàng vao. Màu của dầu càng tốt chứng tỏ hàm lượng hắc ín trong dầu cao. Tuy nhiên màu của dầu cũng phụ thuộc cả vào thành phần. Dầu khoáng và hydro cacbua có hàm lượng hydro cacbua thơm cao có màu tối hơn.

 

Dầu chất lượng cao có màu sáng, hàm lượng hắc ín không quá 0,3% có độ sáng không quá 1 ½ mác NPA trên thang Osvada hoặc mác HT theo GOST 2028 – 74. Các loại dầu trắng có thể coi là dầu không màu.

 

Khi làm việc trong hệ thống lạnh, càng ngày dầu càng sẫm lại. Màu sẫm của dầu đặc trưng cho sự oxy hóa và thời gian sử dụng trong hệ thống lạnh. Thường giới hạn cho phép màu sắc của dầu khoáng và dầu hydro cacbua, quy định sử dung cho hệ thống lạnh làm việc với R12, R22, R502 là 4 … 4,5.

 

 Sự sủi bọt dầu nhớt lạnh công nghiệp

 

Sự sủi bọt là một tiêu chuẩn đánh giá sự thích hợp của dầu đối với máy lạnh. Trong các hệ thống lạnh kín và nửa kín sự sủi bọt của dầu làm cho máy làm việc nặng nề vì dầu lọt vào đường hút để vào xilanh máy nén. Nếu dầu vào quá nhiều có thể gây va đập thủy lực, gây sựu cố máy, làm cháy động cơ, năng suất lạnh giảm và nhiệt độ bay hơi tăng.

 

Sự sủi bọt của dầu phụ thuộc vào chế độ làm việc của máy lạnh (áp suất các te càng thấp, sự sủi bọt càng mạng), vào độ hòa tan của dầu trong môi chất lạnh (độ hòa tan càng lớn, sủi bọt càng nhiều). Sự sủi bọt còn phụ thuộc vào loại dầu.

 

Người ta thử sự sủi bọt của dầu tinh khiết bằng cách thổi khí qua quả cầu có khoan nhiều lỗ ngâm trong dầu.

 

Giảm sự sủi bọt bằng cách thêm các phụ gia chống sủi bọt, tuy nhiên các phụ gia đều làm giảm chất lượng dầu nên khối lượng phụ gia phải được hạn chế đến mức thấp nhất. 

 

 Nhiệt dung riêng của dầu nhớt lạnh công nhiệp

 

Nhiệt dung riêng của các loại dầu lạnh nằm trong khoảng 1,6 … 2,2 kJ/kg.K. Nhiệt dung riêng phụ thuộc vào nhiệt độ thường từ -600C … + 1200C giá trị nhiệt dung riêng thay đổi khoảng ±0,15%. Nhiệt dung riêng của dầu không chỉ là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng dầu.

 

Độ dẫn điện của dầu nhớt lạnh bôi trơn.

Độ dẫn điện của dầu là một tính chất quan trọng đánh giá chất lượng dầu, đặc biệt đối với các máy lạnh Freon kiểu kín và nửa kín. Vì động cơ được bố trí nằm trong vỏ áy nén nên dầu phải có độ cách điện cao, điện áp xuyên thủng lớn, để đảm bảo động cơ làm việc an toàn.

Do có tính cách điện cao nên dầu lạnh Freon dễ nhầm lẫn với dầu biến thế. Độ dẫn điện của dầu lạnh nằm trong khoảng 10-12 … 10-18 l/cm. Hằng số điện môi của dầu lạnh nằm trong khoảng là 2,26 và của dầu tổng hợp là 2,17.

 

Độ dẫn nhiệt của dầu nhớt lạnh công nghiệp

 

Hệ số dẫn nhiệt của dầu tương đối nhỏ. Nếu bám thành lớp trên bề mặt thiết bị trao đổi nhiệt, dầu trở thành lớp cách nhiệt. Hệ số dẫn nhiệt của dần nằm trong khoảng λ = 0,1 đến 0,16 W/mK.

 

Hệ số dẫn nhiệt vào nhiệt độ, từ 600C đến + 120 0C, giảm đến 20%.

 

Trong hệ thống lạnh λ = càng lớn càng thuận lợi cho các quá trình trao đổi nhiệt, tuy nhiên λ cũng không đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá chất lượng dầu.

 

Tính bôi trơn và tính chất mài mòn của dầu nhớt lạnh công nghiệp

 

Tính chất bôi trơn của dầu đặc trưng bằng khả năng chống lại sự bào mòn do ma sát gây sước bề mặt. Tính chất bôi trơn phụ thuộc vào loại dầu, độ nhớt, sức căng bề mặt và các tính chất khác của dầu.

 

Để thử nghiệm và đánh giá bôi trơn, người ta phải sử dụng nhiều chi tiết khác nhau như: hệ số ma sát, đại lượng mài mòn của hơi môi chất, đường kính vết mài mòn, các chỉ tiêu toàn diện của sự mài mòn, tải trọng phá vỡ lớp dầu bao bọc hoặc bề mặt làm việc, công suât của sự ma sát và của sự vận hành không tải của thiết bị thử nghiệm và chỉ tiêu khác. Sự đánh giá chất lượng bôi trơn và chống mài mòn của dầu ở điều kiện vận hành thực với

Tin khác



Sản phẩm đã xem


Copyright © 2015 www.baogiavattu.com

Báo Giá Vật Tư tổng hợp
www.baogiavattu.com - CHUYÊN CUNG CẤP THIẾT BỊ VẬT TƯ CÔNG NGHIỆP & DÂN DỤNG!

Văn phòng: 54/36/7 Lý Thường Kiệt, P.15, Q.11, TP. Hồ Chí Minh

Email: baogiathietbivattu@gmail.com