Điện thoại: 0838 855 955
Hotline: 0938 216 668


Bầu cảm nạp hơi trong van tiết lưu nhiệt


Bầu cảm nạp hơi là loại bầu cảm thông dụng nhất của loại van tiết lưu có MOP. Cũng giống như bầu cảm nạp lỏng, hơi nạp trong bầu cảm là cùng loại với ga lạnh sử dụng trong hệ thống.

 

Tuy nhiên ở kiểu nạp lỏng thì lượng nạp là đủ lớn để ở bất kỳ chế độ làm việc nào của van vẫn tồn tại dạng lỏng trong bầu cảm, còn ngược lại ở kiểu nạp hơi thì lượng nạp được hạn chế để ở 1 nhiệt độ định trước của bầu cảm thì toàn bộ lỏng đã hóa hơi hết, sau đó chỉ tồn tại ở dạng hơi quá nhiệt. Như vậy, dù nhiệt độ bầu cảm có tăng tiếp tục thì áp suất của bầu căm tăng hầu như không đáng kể. Và áp suất bầu cảm bị hạn chế không vượt quá 1 áp suất tối đa đã định trước. Áp suất tối đa này gọi là MOP.

 

Bởi vì áp suất bầu cảm dùng để mở van phải cân bằng với áp suất bay hơi cộng với áp suât lò xo. Khi áp suất bay hơi vượt quá áp suất MOP thì van sẽ đóng lại.

 

Ví dụ theo hình 4 (trong bài Van tiết lưu nhiệt cân bằng trong) ta muốn hạn chế áp suất bầu cảm ở 5.84 bar cộng độ qua nhiệt Δtqn = 5K tương ứng 0.96 bar (áp suất ở 10˚C là 6.80 bar trừ đi áp suất ở 5˚C là 5.84 bar) = MOP = 5.84 + 0.96 = 6.80 bar. Từ áp suất này (tương ứng nhiệt độ quá nhiệt 10˚C) trong bầu cảm chỉ còn hơi quá nhiệt, không còn tồn tại lỏng. Nếu độ quá nhiệt có tăng thêm nữa, áp suất bầu cảm hầu như không tăng thêm, do đó van cũng không mở thêm nữa.

 

Trong khi làm việc nếu áp suất bay hơi vượt quá 5.84 bar cộng với áp suất lò xo 0.96 bar, vượt quá 6.80 bar thì van sẽ đóng lại. Tuy nhiên khi nào áp suất bay hơi giảm xuống bằng hoặc nhỏ hơn 5.84 bar thì bầu cảm lại bắt đầu mở ra làm nhiệm vụ điều chỉnh lưu lượng qua van bằng độ quá nhiệt hơi hút sau dàn bay hơi.

 

Giống như bầu cảm giới hạn áp suất bằng cơ cấu cơ khí, bầu cảm nạp hơi cũng có khả năng tương tự là ngăn ngừa sự ứ lỏng trong dàn bay hơi, tràn lỏng về máy nén và bảo vệ quá tải máy nén ở thời kỳ tái khởi động sau khi dừng máy nén.

 

Do đặc tính bầu căm nhiệt nạp hơi, cần lưu ý một số yêu cầu lắp đặt như sau:

 

1 – Thân van tiết lưu cần được lắp đặt ở vị trí có nhiệt độ cao hơn vị trí lắp đặt bầu cảm, để phòng lỏng ngưng ở màng dãn nở.

 

2 - Ống mao nối đầu van và bầu cảm không được tiếp xúc với bề mặt lạnh hơn nhiệt độ bầu cảm để đề phòng lỏng ngưng ở các vị trí này.

 

 

Hình 1. Đặc tính bầu cảm nạp hơi

 

Nếu để lỏng ngưng ở những vị trí khác ngoài bầu cảm, van sẽ hoạt động sai lệch không đúng như thiết kế.

 

3 – Cần lưu ý vị trí lắp bầu cảm sao cho lỏng từ bầu cảm không thể chảy khỏi bầu do trọng lực. Hình 1 giới thiệu cách lắp đặt bầu cảm đúng: bầu cảm ở dưới thấp và là vị trí lạnh nhất. Nếu để xuất hiện các giọt lỏng ở ống mao hoặc ở màng dãn nở thì van sẽ hoạt động sai lệch.

 

1. So sánh van tiết lưu nhiệt có và không có MOP

 

Van tiết lưu có MOP có ưu điểm đặc biệt trong quá trình xả lạnh của máy lạnh. Trong qúa trình xả lạnh (đưa nhiệt độ buồng lạnh từ nhiệt độ môi trường xuống nhiệt độ yêu cầu và ổn định), máy nén phải làm việc thường xuyên ở tình trạng quá tải do nhiệt đọ bay hơi cao và áp suất bay hơi cao hơn bình thường rất nhiều, nếu không được giám sát và điều chỉnh, rất dễ dẫn đến cháy động cơ máy nén.

 

Tuy nhiên, có hai giải pháp. Giải pháp thứ nhất là tăng công suất động cơ máy nén để có thể vượt qua tải lúc xả lạnh. Tuy nhiên giải pháp này vừa tốn kinh phí đầu tư cho động cơ vừa tổn hao năng lượng do hiệu suất kém hơn khi chạy đầy tải ổn định. Giải pháp khác là hạn chế áp suất bay hơi để tránh quá tải cho động cơ máy nén. So với giải pháp đầu thì hiệu suất máy cao hơn, động cơ nhỏ hơn nhưng thời gian xả lạnh sẽ phải kéo dài. Tùy từng trường hợp có thể áp dụng giải pháp trước hoặc sau. Nếu cần xả lạnh nhanh (ví dụ các buồng gia lạnh, buồng kết đông thực phẩm) nên chọn giải pháp trước. Còn nếu là buồng bảo quản, chạy ổn định, lâu dài thì nên chọn giải pháp sau với động cơ máy nén nhở, khi đó vừa tiết kiệm được kinh phí đầu tư ban đầu vừa tiết kiệm được giá vận hành của thiết bị.

 

Chính vì vậy, việc sử dụng van MOP có ý nghĩa rất to lớn. Van MOP đã và đang được sử dụng rất rộng rãi trong mọi lĩnh vực làm lạnh và đặc biệt trong kỹ thuật điều hòa không khí.

 

Nguyên tắc chung khi chọn van MOP là điểm MOP cao hơn áp suất bay hơi trung bình khoảng từ 0.35 đến 0.70 bar ở áp trung bình của hệ thống lạnh. Khi đặt mua van cần phải nêu giá trị MOP yêu cầu.

 

2. Bầu cảm nạp chéo

 

Các van có bầu cảm nạp cùng loại ga lạnh sử dụng trong hệ thống nói chung đáp ứng tương đối đầy đủ các đặc tính vận hành của hệ thống lạnh ở dải nhiệt độ trung bình và cao. Tuy nhiên ở dải nhiệt độ thấp (từ -25 đến -75˚C) thì các bầu cảm này lại không đáp ứng được như yêu cầu.

 

 

Hình 2. Đường cong áp suất hơi bão hòa của gas lạnh R22 và góc nghiêng đường cong thay đổi

 

Nguyên nhân cơ bản là đặc tính áp suất hơi bảo hòa theo nhiệt độ của các ga lạnh là không tuyến tính mà theo hàm mũ. Hình 2 giới thiệu đường cong áp suất hơi của R22. Từ đây ta có thể thấy rất rõ góc nghiêng của đường cong liên tục thay đổi từ 0˚ đến tân 90˚. Ở khoảng 0˚C, sự thay đổi áp suất 0.5 bar tương ứng với sự tahy đổi nhiệt độ khoảng 3K, nhưng ở khoảng -40˚C, một sự thay đổi áp suất 0.5 bar gây ra sự thay đổi nhiệt độ lên tới 9K. Rõ ràng, khi bầu cảm nạp cùng loại ga với hệ thống lạnh thì độ quá nhiệt gây ra ở nhiệt độ thấp sẽ quá lớn. dàn lạnh làm việc không hiệu quả vì đoạn ống quá nhiệt trở nên quá dài.

 

Chính vì lý do đó, đối với nhiệt độ sôi thấp, người ta sử dụng van tiết lưu có bầu cảm nạp loại ga khác với ga trong hệ thống lạnh. Ga nạp trong bầu cảm là loại ga có nhiệt độ sôi thấp hơn loại ga sử dụng trong hệ thống lạnh để có thể tạo được sự thay đổi gần tuyến tính giữa áp suất và nhiệt độ trong dải nhiệt độ vận hành của van, tạo ra độ quá nhiệt mong muốn và phù hợp.

 

Van tiết lưu có bầu cảm nạp loại ga khác so với ga dùng trong hệ thống được gọi là van có bầu cảm nạp chéo. Van có bầu cảm nạp chéo được sử dụng chủ yếu ở dải nhiệt độ thấp.

 

3. Van tiết lưu nhiệt có cân bằng áp suất

 

Van tiết lưu nhiệt cân bằng áp suất là loại van có thể cân bằng được áp suất trong hệ thống giữa bên hạ áp và cao áp ở chu kỳ dừng máy để máy nén có thể khởi động lại một cách dễ dàng trong chu kỳ làm việc sau đó giống như đối với hệ thống dùng ống mao.

 

Đặc điểm của van là có 1 lỗ thông giữa hai khoang hạ áp và cao áp bố trí ngay trong thân van. Lỗ thông này sẽ bị đóng khi van hoạt động bình thường ở chu kỳ máy nén làm việc nhưng lại mở để cân bằng áp suất hai phía ở chu kỳ máy nghỉ. Lỗ thông mở nhờ áp suất hút tăng cao ở chu kỳ nghỉ.

 

Van tiết lưu nhiệt cân bằng áp suất được thiết kế để sử dụng cho các máy điều hòa không khí nhỏ, năng suất lạnh không quá 14kW (4 tấn lạnh). Do có vấn đề với việc khởi động nên loại van này không nên sử dụng cho các máy lạnh yêu cầu momen khởi động lớn, cho các loại máy 2 cụm (và 2 chiều) mà dàn ngưng đặt chung với máy nén.

 

Đối với những trường hợp đó, có thể sử dụng van cân bằng áp suất có lỗ thông thường xuyên, nghĩa là lỗ thông này mở thường xuyên cả ở chu kỳ nghỉ và làm việc của máy lạnh. Thực chất nó chỉ là một lỗ khoang rất nhỏ nối giữu bên hạ áp và cao áp, giống như ống tiết lưu. Các loại van này là khó sử dụng, phạm vi điều chỉnh hẹp do đó cần có các đặc tính thực nghiệm trước khi sử dụng.

 

Các bài viết liên quan đối với van tiết lưu:

 

>> Van tiết lưu là gì?

 

>> Van tiết lưu nhiệt cân bằng trong

 

>> Van tiết lưu nhiệt cân bằng ngoài

 

>> So sánh van tiết lưu nhiệt cân bằng trong và cân bằng ngoài

 

>> Vị trí lắp đặt van tiết lưu nhiệt và bầu cảm nhiệt

 

>> Cài đặt van tiết lưu nhiệt

Tin khác



Sản phẩm đã xem


Copyright © 2015 www.baogiavattu.com

Báo Giá Vật Tư tổng hợp
www.baogiavattu.com - CHUYÊN CUNG CẤP THIẾT BỊ VẬT TƯ CÔNG NGHIỆP & DÂN DỤNG!

Văn phòng: 372/5F Tùng Thiện Vương, Phường 13, Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh

Email: baogiathietbivattu@gmail.com